Sự khác biệt trong cách đọc chữ Hán và Tự điển giữa Đài Loan và Trung Quốc
Những người bạn từng tiếp xúc HSK và TOCFL sẽ phát hiện Đài Loan và Trung Quốc có một số khác biệt về phát âm chữ Hán, bài này sẽ chia sẻ với các bạn lịch sử cách đọc chữ Hán và nguyên nhân 2 bên có cách đọc khác nhau.
(Chú ý: ở đây đang nói không phải giọng địa phương, mà là cách đọc chuẩn được ghi trong tự điển/từ điển 2 bên.)
—
Chữ Hán trong sách cổ thường có nhiều cách đọc khác nhau, việc chọn một cách đọc làm chuẩn là nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục. Đài Loan và Trung Quốc có Bộ Giáo Dục riêng, dẫn đến tiêu chuẩn ngôn ngữ khác nhau.
Hiện nay, tiêu chuẩn “Âm đọc tiếng Phổ Thông” của Trung Quốc và “Âm đọc Quốc Ngữ” của Đài Loan là hai hệ thống phổ biến nhất. Những nơi khác như Singapore, Malaysia, Hong Kong, Macao thường kết hợp cả hai. Trước đây, phần lớn người học tiếng Trung theo tiêu chuẩn Đài Loan, nhưng những năm gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, tiêu chuẩn của Trung ngày càng phổ biến hơn.
Về cơ bản, cách đọc ở Đài Loan giữ nhiều yếu tố xưa hơn, trong khi tiếng Phổ Thông của Trung Quốc phản ánh cách phát âm hiện đại. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ: một số trường hợp Đài Loan chọn theo khẩu ngữ, còn Trung Quốc lại giữ âm đọc xưa .
Tại Đài Loan, tiếng Phổ Thông được gọi là Quốc Ngữ, hoặc đơn giản là Tiếng Hoa. Trước năm 1955, Trung Quốc cũng gọi tiếng Phổ Thông là Quốc Ngữ, nhưng sau đó đổi tên trong một cuộc cải cách lớn, cùng với việc chuyển từ chữ phồn thể sang giản thể. Trước cải cách này, tiếng Trung giữa hai bên không khác nhau nhiều, nhưng về sau, mỗi bên phát triển theo một con đường riêng.
Đài Loan vẫn thuộc Trung Hoa Dân Quốc, nên vẫn dùng tiêu chuẩn ngôn ngữ từ thời đó và bản địa hóa theo nhu cầu. Trong khi đó, Trung Quốc Đại Lục từ năm 1953 đã biên soạn lại từ điển với tiêu chuẩn mới mà khác với thời đại THDQ, nên 2 bên tồn tại tiêu chuẩn khác nhau.
Theo thống kê 2 bên có hơn 13% khác nhau về cách đọc chữ Hán, nhưng điều này không ảnh hưởng nhiều đến việc giao tiếp giữa người Đài Loan và người Trung Quốc, thật ra cách đọc chuẩn của Đài Loan cũng tồn tại ở TQ với hình thức “cách đọc địa phương” tại từng khu vực.
—
Bên dưới là những sự khác biệt thường gặp:
柏树 (柏樹)
携带(攜帶)
打烊
ở TQ cũng có nhiều người đọc dǎyáng, nhưng dǎyàng mới là cách đọc chuẩn của TQ.
期待
tự điển TQ ngày xưa thu lục cả 2 âm, về sau xoá âm qí và lấy qī làm chuẩn, Đài Loan cũng thu lục cả 2 nhưng lấy qí làm chuẩn
发酵(發酵)
tự điển 2 bên đều thu lục 2 âm nhưng lấy âm khác nhau làm chuẩn.
成绩(成績)
绩 trong tiếng Hán cổ thuộc về 入声字(入聲字) chữ thanh nhập, thanh nhập là 1 thanh điệu cổ đại đã biến mất trong tiếng Hán hiện đại, vì tiếng Hán hiện đại không có thanh nhập nên khi chuyển hoá thành thanh điệu tiếng phổ thông sẽ được phân bố vào thanh 1, 2, 3, 4 theo các cách khác nhau, vì vậy thường xuất hiện nhiều cách đọc cùng âm khác thanh điệu. Sau này sẽ ra 1 bài riêng dành cho chữ thanh nhập.
微信
Tự điển TQ ngày xưa thu lục cả âm wēi và âm wéi, về sau xoá âm wéi và lấy wēi làm chuẩn, từ điển Đài cũng thu lục cả 2 nhưng lấy âm wéi làm chuẩn.
垃圾
Nhiều chuyên gia ngôn ngữ tìm hiểu nguồn gốc của 垃圾, 垃圾 trong tự điển ngày xưa cách đọc cũng ”lèsè” , nhưng cuối cùng họ bỏ âm này mà lấy âm “lājī” làm chuẩn. Hiện nay miền nam TQ có nhiều nơi vẫn tồn tại cách đọc gần giống “lèsè”.
丘壑
Trong 《集韻》(từ điển cổ đại của Trung Quốc) ghi 壑có 2 âm đọc hè và huò. Đài chọn âm huò làm cách đọc chuẩn, Trung lấy hè làm cách đọc chuẩn.
企业(企業)
质量(質量)
质 cũng là chữ thanh nhập, khi chuyển hoá thành thanh điệu tiếng phổ thông đã xuất hiện 2 cách đọc, ở một số khu vực miền Bắc TQ còn có cách đọc “zhǐ”. Trong tiêu chuẩn Đài Loan, 质tồn tại cách đọc thanh2 và thanh4, thanh 4 chỉ dùng để đọc từ 人质, còn lại đều đọc thanh 2 hết, tự điển xưa của TQ y hệt Đài, về sau TQ xoá âm thanh 2 và lấy thanh 4 làm chuẩn.
跌倒
建筑(建築)
筑cũng là 入声字, Tự điển TQ ngày xưa thu lục cả âm zhú và zhù nhưng về sau xoá âm zhú và lấy zhù làm chuẩn, còn từ điển Đài chỉ thu lục mỗi âm zhú.
闭门造车(閉門造車)
Âm “chē” là âm đọc hiện nay hay dùng ở Đài và TQ, ngoài âm “chē”, Đài còn sử dụng âm “jū” , âm “jū” là âm cổ, được dùng cho khi đọc thành ngữ và văn cổ.
身无长物(身無長物)
chữ 长có 3 cách đọc “cháng”, “zhǎng”, “zhàng”, lúc có nghĩa là “thừa thãi” nên đọc zhàng, ở Đài Loan vẫn tồn tại âm này, Trung Quốc đã xoá âm zhàng
量体裁衣(量體裁衣)
Đài Loan đọc liang2 là vì suy nghĩ theo nghĩa “đo lường”, còn bên Trung đọc liang4 vì suy nghĩ theo nghĩa “ước lượng”
刁难(刁難)
通缉(通緝)
缉 cũng là chữ nhập thanh, khi chuyển hoá thành tiếng phổ thông đã xuất hiện 3 cách đọc, còn 1 cách đọc nữa là “qi1”, hiện nay đã bị xoá.
趔趄
趄 trong tự điển cổ đại cũng tồn tại 2 cách đọc.
南辕北辙 (南轅北轍)
Ở Đài và TQ, chữ 辙đều có 2 cách đọc “zhé” và “chè”, nhưng 辙trong thành ngữ này TQ đọc “zhé”, Đài đọc “chè”, thành ngữ này thường khiến 2 bên người dân cãi nhau vì họ luôn tưởng đối phương đọc sai, nhưng thật ra 2 bên đều đúng, chỉ vì quy phạm ngôn ngữ khác nhau mà thôi.
苏辙(蘇轍)
Ngay cả tên của cổ nhân cũng đọc khác nữa.
比肩
Ở TQ 比chỉ có âm bǐ, ở Đài có cả “bǐ” và “bì”, 2 âm này có nghĩa khác nhau.
穴道
穴cũng là chữ thanh nhập, chuyển hoá thành tiếng phổ thông có 2 cách đọc
混淆
Sự khác biệt này là do Đài sự dụng cách đọc của tiếng Bắc Kinh vì chữ 淆 trong tiếng Bắc Kinh ngày xưa đọc là “yáo”, còn Trung sử dụng cách đọc của tiếng Hán, nên “xiáo” ở Trung là cách đọc chuẩn.
厦门(廈門)、大廈
ở Trung chữ 厦có 2 cách đọc, khi chỉ toà nhà phải đọc shà, nhưng tiêu chuẩn Đài chỉ có âm xià.
我和你
Ở TQ chữ 和có 6 cách đọc, ở Đài thì có 7 cách đọc, thêm một âm “Hàn”. Ở Đài, khi 和làm từ liên kết có hai cách đọc là “Hé” và “Hàn”. “Hàn” là cách đọc của tiếng Bắc Kinh ngày xưa, hiện nay người Bắc Kinh không còn sử dụng “Hàn”nữa, nhưng đa số người Đài Loan vẫn luôn phát âm thành “Hàn” khi 和làm từ liên kết.
—
Cách đọc của chữ Hán thỉnh thoảng sẽ thay đổi do chính sách của Bộ Giáo Dục, điều này đã dẫn đến hiện tượng những người ở các độ tuổi khác nhau sẽ học được cách đọc khác nhau trong trường học, do đó, sau khi ra trường, các âm đọc khác nhau sẽ trộn lẫn với nhau.
Dưới đây là những cách đọc được thay đổi:
一、罪证确凿(罪證確鑿)
vì người dân đọc sai nhiều nên cách đọc sai trở thành cách đọc đúng.
二、牛仔裤(牛仔褲)
仔có 2 cách đọc là “zǐ” và “zǎi” , 牛仔裤 trong khẩu ngữ của người Đài và người TQ đều đọc “zǎi”. Bộ giáo dục Đài ngày xưa coi âm “zǎi” là âm đọc tiếng địa phương, cho nên cách đọc chính xác nên là “zǐ”, nhưng trên thực tế không có người Đài nào đọc là “niúzǐkù” cả, nên Bộ Giáo Dục Đài Loan đã thay đổi tiêu chuẩn.
三、着想(著想)
Ngày xưa ở Trung từng có một quãng thời gian lấy “zháo xiǎng” làm cách đọc chuẩn, nhưng hiện nay “zhúo xiǎng” mới là cách đọc chuẩn của TQ. ở Đài Loan từ này không có thay đổi phát âm.
四、通缉(通緝)
Trong tự điển Tân Hoa Trung Quốc bản 1953, 緝 trong 通緝được quy định nên đọc thành qi4, trong bản mới đc thay đổi thành ji1.
五、液体(液體)
2 bên thay đổi phát âm này rất lâu rồi, nhưng đa số người Đài mình vẫn phát âm theo cách đọc xưa yi4
Bổ sung thêm, 液、译(譯)、疫 3 chữ này tiếng Việt đều đọc là “dịch”, và trong tiếng Trung đều là âm “yi4” nên mình nghĩ âm hán việt và âm cổ có mối quan hệ nhất định đáng để mình khám phá.
六、汗流浃背(汗流浹背)
七、癌症
Tiếng Bắc Kinh ngày xưa đọc 癌là “ yán “, nhưng âm này sẽ làm cho mọi người bị nhầm 癌症(ung thư)và 炎症(chứng viêm), vì cả 2 phát âm đều là “yánzhèng”, nên về sau lấy phát âm tiếng Thượng Hải “ái” để làm chuẩn, bây giờ 癌 trong tự điển Đài Loan vẫn có âm yán, nhưng không ai sử dụng nữa.
穴道
Trong tự điển tân hoa trung quốc bản 1953, 穴 có 2 cách đọc dùng cho ý nghĩa khác nhau, về sau xoá âm xue4 và lấy thanh 2 làm chuẩn.
说服(說服)
Chữ 说ngoài âm “shuō”, còn một âm “shuì “, 说服 có nhiều người bản địa đều đọc là “shuìfú”. Trong tiêu chuẩn của TQ rốt cuộc phải đọc là “shuìfú” hay là “shuōfú” , điều này đã gây nhiều tranh cãi, nhưng tiêu chuẩn TQ hiện nay đã nói rõ phải đọc “shuōfú” . Ở Đài thì cách đọc chuẩn từ trước đến giờ đều là “shuìfú”, chưa bao giờ thay đổi.
—
Hơn 70 năm trước, Đài Loan và Trung Quốc bắt đầu phát triển giáo dục của Quốc ngữ(tiếng phổ thông), lúc đấy có một ông người Bắc Kinh 齐铁根 (齊鐵根), ông ấy dạy người dân Đài nói Quốc ngữ, mỗi sáng phát sóng trên đài phát thanh để dạy kèm, vì ông là người Bắc Kinh nên trong quá trình giảng dạy ông du nhập vào rất nhiều cách đọc của phương ngữ Bắc Kinh, đây là lý do có nhiều cách đọc, từ vựng tiếng Bắc Kinh vẫn còn tồn tại ở Đài Loan.
Ví dụ:
我”和”你. (Hàn)
“法”国 (fà)
“法”子(fá)
“液”体 (yì)
Một số quan chức Trung Quốc cũng du nhập một ít cách đọc phương ngữ miền nam Trung Quốc vào Đài Loan. Do đó, âm đọc Quốc ngữ Đài Loan bị lẫn một ít âm đọc phương ngữ miền nam Trung Quốc với phương ngữ Bắc Kinh.
Ví dụ: 垃圾 lèsè
